×
Danh mục menu ×

Luật sư dân sự

Luật dân sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, là tập hợp các quy phạm điều chỉnh các quan hệ tài sản và một số quan hệ nhân thân trong giao lưu dân sự trên cơ sở bình đẳng, tự quyết, tự chịu trách nhiệm. trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự.

luật hình sự

1. Nội dung của pháp luật dân sự hiện hành

Luật dân sự bao gồm các nguyên tắc cơ bản và có nhiều chế định khác nhau như: chế định tài sản và quyền sở hữu; quy định về định nghĩa nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, quy định về nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật; quy chế thực hiện công việc khi chưa được ủy quyền; quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; quy chế thừa kế; quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất; quy định về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Mỗi thể chế luật dân sự đều có những nguyên tắc riêng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản, có những quy phạm được tập hợp theo những tiêu chí riêng phù hợp với thể chế đó.

2. Phân tích đối tượng và phương pháp điều chỉnh của luật dân sự?

Để quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao hiệu lực thi hành các văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. , thể hiện rõ hơn đường lối của Đảng trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Với mục tiêu đó, động lực phát triển chủ yếu là vì dân, do dân, đặt con người làm trung tâm, giải phóng sức sản xuất, đánh thức mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động. hoạt động và của cả cộng đồng dân tộc; khuyến khích và tạo mọi điều kiện để mọi người dân Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng Tổ quốc, phấn đấu làm giàu chính đáng cho đất nước. Trong đó, người dân được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo vệ quyền tài sản và thu nhập hợp pháp.

Hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp. Trong đó mỗi ngành luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nhất định. Các nhóm quan hệ xã hội do một ngành luật điều chỉnh được gọi là chủ thể của ngành luật đó. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, Nhà nước sử dụng các biện pháp tác động khác nhau, hướng các quan hệ xã hội phát sinh, thay đổi và chấm dứt theo ý chí của Nhà nước. Phương thức tác động của Nhà nước đối với các quan hệ xã hội có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào các quan hệ xã hội cần được điều chỉnh bằng pháp luật.

3. Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự?

Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ nhân thân, tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm. (sau đây gọi là quan hệ dân sự) (Điều 1 Bộ luật Dân sự - BLDS 2015). Với quy định này, pháp luật dân sự nói chung và BLDS năm 2015 nói riêng đã mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các quan hệ thuộc lĩnh vực luật tư và trở thành luật chung điều chỉnh các quan hệ tài sản. Trường hợp luật riêng không điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đó thì quy định của Bộ luật dân sự 2015 sẽ điều chỉnh. Tuy nhiên, quy định của luật riêng không được trái với các nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự 2015. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm các nguyên tắc trên thì áp dụng theo quy định của Luật này. Các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 được áp dụng. 

3.1 Quan hệ tài sản

Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua tài sản. Các quan hệ tài sản luôn gắn liền với một tài sản nhất định được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác.

Tài sản (được khái quát chung tại Điều 105 BLDS 2015) bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Quan hệ tài sản - tài sản không chỉ giới hạn ở những vật vô tri, vô giác mà còn chứa đựng nội dung xã hội, là những quan hệ xã hội liên quan đến một tài sản.

Quan hệ tài sản không chỉ bao gồm những vật thuộc về ai, ai chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà còn bao gồm cả việc chuyển giao tài sản đó từ chủ thể này sang chủ thể khác, quyền yêu cầu của chủ thể này hoặc chủ thể khác. nhiều chủ thể và nghĩa vụ tương ứng với các quyền đã được yêu cầu đó của một hoặc nhiều chủ thể khác trong quan hệ nghĩa vụ cũng được coi là quan hệ tài sản. Các quan hệ tài sản rất đa dạng và phức tạp vì các yếu tố tạo nên các quan hệ đó bao gồm: chủ thể tham gia, đối tượng tác động và nội dung của các quan hệ đó. Các quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh là quan hệ tự nguyện. Các quan hệ tài sản phát sinh giữa các chủ thể là những quan hệ kinh tế cụ thể trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu thụ sản phẩm, cung ứng dịch vụ trong xã hội. Quan hệ tài sản luôn gắn liền với quan hệ sản xuất và phù hợp với quan hệ sản xuất là cơ sở hạ tầng của xã hội. Quan hệ sản xuất không phụ thuộc vào ý chí của con người mà nảy sinh và phát triển theo các quy luật khách quan. Nhưng các quy phạm pháp luật này được nhận thức và phản ánh thông qua các quy phạm pháp luật mang tính chủ quan - ý chí của giai cấp thống trị phản ánh tồn tại xã hội thông qua các quy phạm pháp luật. Mỗi chủ thể tham gia vào một quan hệ kinh tế cụ thể đều có những mục tiêu và động cơ nhất định. Vì vậy, các quan hệ tài sản mà các chủ thể tham gia thực hiện mang ý chí của các chủ thể và phải phù hợp với ý chí của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật dân sự. Nhà nước sử dụng các quy phạm pháp luật dân sự để tác động vào các quan hệ kinh tế, hướng các quan hệ này phát sinh và biến đổi theo ý chí của Nhà nước. Vì vậy, sự tác động của Nhà nước thông qua pháp luật dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng sự phát triển của các quan hệ tài sản. Nếu định hướng phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển thì thúc đẩy quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Có thể nói, quan hệ tài sản là sự thể hiện ý chí của chủ thể, nhà nước về quan hệ sản xuất trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang xây dựng và hình thành nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu, hình thức kinh doanh thì việc xác định các mối quan hệ về tài sản là phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng. Số lượng sản xuất là định hướng đặc biệt quan trọng, có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ nền sản xuất xã hội.

Thứ hai, quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh mang tính chất hàng hóa, tiền tệ. Định hướng chiến lược của nước ta hiện nay là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa (Điều 15 Hiến pháp năm 1992). Trong mô hình kinh tế này, tài sản được thể hiện dưới dạng hàng hóa và được chuyển đổi thành tiền. Sản xuất hàng hoá và dịch vụ để mua bán và trao đổi là đặc trưng của nền sản xuất này. Nó tạo động lực cho mọi cá nhân, tổ chức, đánh thức mọi tiềm năng của họ, phát huy tinh thần tự lực, tự cường vươn lên làm giàu chính đáng cho bản thân và đất nước. Nhưng nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường cũng có những mặt trái của nó (cạnh tranh không lành mạnh, chênh lệch giàu nghèo ...). Vì vậy, khuyến khích tính năng động, sáng tạo đi đôi với thiết lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế, bảo đảm các đơn vị kinh tế không phân biệt quan hệ sở hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ. kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật. Vì vậy, cần phải có một khung pháp lý vừa mềm dẻo, vừa chặt chẽ, vừa chặt chẽ để đáp ứng các yêu cầu trên. Hơn nữa, chúng ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực nên pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng phải tương thích với pháp luật của các nước trên thế giới và trong khu vực. Quy luật kinh tế thị trường trong nền sản xuất xã hội điều chỉnh các quan hệ tài sản, một trong những quan hệ đó là quan hệ tiền - hàng. Việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường chủ yếu thông qua hình thức tiền tệ - hàng hoá. Khái niệm hàng hoá ngày càng được mở rộng cùng với sự chuyên môn hoá sản xuất, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ.

Thứ ba, các quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh có tính chất bù trừ tương đương. Sự đền bù ngang nhau trong trao đổi là biểu hiện của quan hệ hàng hoá, tiền tệ, là đặc trưng của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng. Nhưng không phải trường hợp chuyển nhượng tài sản, dịch vụ nào cũng có mức đền bù như nhau như: tặng, cho, để thừa kế, sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật… Nhưng các mối quan hệ này không quan trọng. hệ thống trao đổi cơ bản và không phổ biến; nó không chỉ là quan hệ pháp luật mà còn chịu sự chi phối của nhiều quan hệ xã hội khác (thuần phong mỹ tục ...).

3.2 Các mối quan hệ cá nhân

Cùng với quan hệ tài sản, Bộ luật dân sự còn điều chỉnh quan hệ nhân thân (Điều 1 Bộ luật dân sự 2015). Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về giá trị nhân thân của cá nhân hoặc tổ chức. Việc xác định giá trị nhân thân là quyền nhân thân phải được pháp luật thừa nhận là quyền tuyệt đối của cá nhân, tổ chức. Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với một chủ thể mà về nguyên tắc không được chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan có quy định khác. Đó là quyền dân sự tuyệt đối, mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác.

Quyền nhân thân được quy định bởi nhiều ngành luật. Luật Hành chính quy định trình tự, thủ tục xác định các quyền nhân thân như: phong tặng các danh hiệu cao quý của Nhà nước; tặng thưởng huân chương, huy chương các loại; công nhận danh hiệu… Luật hình sự bảo vệ giá trị nhân thân bằng cách quy định những hành vi nào khi xâm phạm đến giá trị nhân thân thì bị coi là tội phạm (như các tội: vu khống, làm nhục người khác, làm hàng hóa). giả mạo,…).

Pháp luật dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng cách quy định những giá trị nhân thân nào được coi là quyền nhân thân, trình tự thực hiện, giới hạn của các quyền nhân thân đó, đồng thời quy định các biện pháp để thực hiện chúng. bảo vệ quyền nhân thân (Điều 11-14 Bộ luật Dân sự 2015).

Các quan hệ nhân thân phát sinh từ quyền nhân thân do pháp luật dân sự điều chỉnh có thể được chia thành hai nhóm căn cứ vào khoản 1 Điều 17 Bộ luật dân sự 2015:

- Quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản;

- Quan hệ nhân thân không gắn với tài sản.

Quan hệ nhân thân do pháp luật dân sự điều chỉnh có các đặc điểm sau:

4. Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự

Pháp luật không tạo ra các quan hệ xã hội mà chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội. Cơ chế điều chỉnh các quan hệ xã hội rất phức tạp, bao gồm hệ thống các cơ quan, tổ chức sử dụng các biện pháp, cách thức tác động đến hành vi của các chủ thể, hướng dẫn hành vi của các chủ thể tham gia. tham gia vào các mối quan hệ này. Tuỳ theo từng nhóm quan hệ xã hội cần điều chỉnh mà Nhà nước lựa chọn các biện pháp tác động khác nhau đối với các quan hệ đó.

Phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự là cách thức, biện pháp của Nhà nước tác động vào các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt theo ý chí của Nhà nước. Nhà nước phù hợp với ba lợi ích (Nhà nước, xã hội và cá nhân).

Luật dân sự điều chỉnh tài sản và các quan hệ nhân thân của cá nhân, pháp nhân được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm.

Phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự có những đặc điểm sau:

Quyền nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao cho chủ thể khác. Tuy nhiên, một số trường hợp nhất định có thể bị dịch chuyển. Các trường hợp đặc biệt này phải do pháp luật quy định (quyền công bố tác phẩm, đối tượng sở hữu công nghiệp ...) của tác giả.

- Quyền nhân thân không được xác định bằng tiền - Giá trị đạo đức và tiền tệ không tương đương và không thể quy đổi ngang giá được. Quyền nhân thân không gắn liền với tài sản như danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, danh dự, uy tín của tổ chức; quyền đối với họ tên; đổi tên; quyền xác định và thay đổi dân tộc; quyền đối với hình ảnh; với những bí mật đời tư; quyền kết hôn, ly hôn ... (từ Điều 26 đến Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015). Một số quyền nhân thân mới được ghi nhận và bảo vệ trong BLDS 2015 như: Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; chuyển đổi giới tính; Quyền nhân thân trong quan hệ hôn nhân và gia đình ...

Luật dân sự thừa nhận các giá trị nhân thân là quyền nhân thân và quy định các biện pháp để bảo vệ các giá trị đạo đức đó. Mỗi chủ thể có những giá trị nhân thân khác nhau nhưng đều được bảo vệ như nhau khi những giá trị đó bị xâm phạm. Khi quyền nhân thân bị xâm phạm, chủ thể có quyền tự sửa sai, yêu cầu người bị xâm phạm hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm: xin lỗi, cải chính; tự đính chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu tòa án buộc người vi phạm bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần.

Quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản là những giá trị nhân thân mà khi xác lập sẽ làm phát sinh quyền tài sản. Quyền nhân thân là tiền đề làm phát sinh quyền tài sản khi có những sự thật nhất định về mặt pháp lý như tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật; quyền tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp ... được hưởng tiền nhuận bút, tiền công, tiền thù lao của việc áp dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp nêu trên. Quyền đối với hình ảnh của cá nhân là quyền nhân thân, nhưng khi hình ảnh đó bị người khác sử dụng vào mục đích thương mại thì người có hình ảnh đó sẽ phải bồi thường. Một sự kiện làm phát sinh quyền nhân thân gắn liền với tài sản.

- Các chủ thể tham gia quan hệ tài sản và nhân thân được pháp luật dân sự điều chỉnh độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng về địa vị pháp lý. Tính độc lập về tổ chức và tài sản là tiền đề tạo nên sự bình đẳng trong các quan hệ mà các chủ thể tham gia Vì các quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh mang tính chất hàng hoá - tiền tệ và tính chất đền bù tương đương là đặc trưng của trao đổi. Nếu không có sự độc lập về tài sản và sự bình đẳng về địa vị pháp lý, sẽ không có sự đền bù tương đương. Bình đẳng, độc lập được thể hiện ngay cả trong trường hợp các chủ thể có quan hệ khác mà mình không bình đẳng (trong quan hệ hành chính, lao động ...) và sự bình đẳng, độc lập của chính các bên. môn học mới tạo tiền đề cho sự tự quyết trong tương lai. Nếu vợ, chồng tặng cho nhau tài sản trong thời kỳ hôn nhân mà nguồn gốc tài sản là tài sản chung thì quan hệ tặng cho chủ yếu là tình cảm, không chuyển giao quyền sở hữu cho bên kia. bên nhận vì khi xác lập quan hệ tặng cho này thì giữa vợ và chồng không có sự độc lập về tài sản.

- Pháp luật dân sự ghi nhận quyền tự định đoạt của các chủ thể trong việc tham gia các quan hệ tài sản. Khi tham gia vào các quan hệ tài sản, mỗi chủ thể đều đặt ra những mục tiêu với những động cơ nhất định. Vì vậy, việc lựa chọn một mối quan hệ cụ thể nào là do các chủ thể tự quyết định, dựa trên khả năng, điều kiện và mục đích tham gia vào các mối quan hệ đó. Khi tham gia vào các mối quan hệ cụ thể, các chủ thể tự mình quyết định lựa chọn đối tác tham gia, nội dung quan hệ mà mình tham gia và phương thức, phương thức thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trong nhiều trường hợp, các bên có thể tự thiết lập các biện pháp bảo đảm, hình thức, phạm vi trách nhiệm và cách thức áp dụng trách nhiệm khi một bên hoặc bên kia không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận. .

Tuy nhiên, quyền tự định đoạt của các chủ thể khi tham gia vào các mối quan hệ không có nghĩa là tự do, tùy tiện trong việc tạo dựng, thay đổi, chấm dứt các mối quan hệ đó. Đặc điểm chung của tài sản và các mối quan hệ nhân thân là đa dạng và phức tạp. Vì vậy, các quy phạm pháp luật không thể dự báo hết các mối quan hệ đang tồn tại và phát triển. Vì vậy, pháp luật đặt ra các giới hạn, vạch ra các hành lang an toàn và cần thiết trong đó các chủ thể có quyền tự do hành động. Giới hạn đó được xác định bằng các nguyên tắc được quy định trong BLDS và được thể hiện rõ nhất tại Điều 3 BLDS 2015: “Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm. lợi ích của Nhà nước. đất nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác ”. Khi vi phạm nguyên tắc này mà gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác thì sẽ bị coi là vi phạm pháp luật dẫn đến hậu quả pháp lý và phải bồi thường thiệt hại. Giao kết, thỏa thuận là tự nguyện, nhưng sau khi giao kết hoặc tự nguyện thỏa thuận thì các chủ thể buộc phải tham gia vào quan hệ dân sự đó. Mặt khác, trong một số trường hợp, để bảo vệ quyền lợi của một số chủ thể, pháp luật đã hạn chế quyền tự định đoạt đó (như quy định về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ai là người được hưởng thừa kế). . di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc ...).

- Xuất phát từ sự bình đẳng giữa các chủ thể, quyền tự định đoạt của họ khi tham gia vào các quan hệ dân sự, đặc trưng của phương thức giải quyết tranh chấp dân sự là hòa giải. Đây là nguyên tắc được quy định tại Điều 7 Bộ luật dân sự 2015 - Nguyên tắc hòa giải. Việc thực hiện hoặc từ chối các quyền tài sản của đối tượng trong phạm vi.